Hiển thị các bài đăng có nhãn du-lich-hue. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn du-lich-hue. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

Khám phá kiến trúc độc đáo nổi tiếng của cung An Định

Vua Khải Ðịnh (1916-1925) đã cho xây cung điện này từ một vương phủ nhỏ vốn là tiềm để của ông ta. Công trình chưa xong thì nhà vua băng hà. Hoàng tộc dùng An Ðịnh Cung làm nơi tiếp khách nước ngoài. Sau đó bà Từ Cung ở đó năm 1945-1950-1968-1975.


Cung điện vẫn còn nét kiến trúc truyền thống của nhà Nguyễn cộng với kiến trúc gothic in đậm trong những phong cách trang trí và các chi tiết kiến trúc như cột trụ, vòm cửa. Vật liệu xây dựng cũng tây hóa như bất kỳ một công trình nào được xây trong gian đoạn đó. Ði sâu vào lâu đài du khách du lịch Huế 5 ngày có cảm giác như đi vào một tòa lâu đài của một nhà quý tộc Tây Âu bởi sự phong phú về những phòng ốc, cầu thang, bởi những họa tiết hầu như xa lạc và truyền thống. Lá nho thay thế rồng phụng, hoa hồng thay thế hoa cúc, hoa sen. Ðằng sau cái cống bêtông là tòa nhà bát giác có tên là Trung lập đình, tòa nhà xinh xắn trong đó để pho tượng đứng của vua Khải Ðịnh nay để ở lăng Khải Ðịnh.

Nội thất Ðại Sảnh gồm 20 phòng nhưng phòng khách và hai phòng chiêu đãi ở tầng 1 là nơi đáng lưu ý. Trên tường phòng khách là sáu bức tranh vẻ cảnh lăng các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, Khải Ðồng, Ðồng Khánh. Tranh vẻ bột màu trên nền tường và những bộ khung thếp vàng bao quanh- 26 vòm cửa của cả căn phòng làm bằng gỗ mạ vàng với những hoa văn chạm trỗ rất tinh vi, sinh động.

Có lẽ đây là nơi bảo lưu nhiều kiệt tác sơn son thếp vàng- chính những bức tranh này cùng các họa tiết thếp vàng đã đem lại cho chúng ta sự quen thuộc ấm  áp như kéo du khách tour hè 2018 ra khỏi cảm giác lọt vào lâu đài phương Tây. Từ tầng này có cầu thang dẫn lên tầng 2,3 nơi trước đây là chỗ ở của bà Từ Cung và thờ thần linh.

Trong An Ðịnh Cung trước đây có nhà Cửu Tư Ðài một công trình kiến trúc nổi tiếng có nội thất trang trí sành sứ ghép- Loại hình phổ biến thời Khải Ðịnh, góp phần mang lại danh hiệu cho ông vua "Người con của những mảnh sành" mà người Pháp đã tặng cho ông.

Sau tòa nhà chính là vườn nuôi nai, cá sấu. Trên ban công một bức bình phong ở tầng 2 còn lưu lại dấu vết bài ngự chế An Ðịnh Cung do vua Khải Ðịnh viết vào mùa thu năm Canh Thân (1920) được khắc trên xi măng vôi vữa.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Ánh chiều lung linh trên đầm Chuồn

“Nhiều người lặn lội qua tận Myanmar để ngắm cảnh đẹp hồ Inle mà ít ai biết cảnh sắc đầm Chuồn ở Huế cũng tuyệt mỹ chẳng thua gì non nước 
xứ người”.

Con đò nhỏ nổ máy rời bến, ra giữa mặt đầm trong ánh chiều lung linh, nhiều du khách xuýt xoa như thế.

Từ TP Huế, chúng tôi mua thêm một ít bánh lọc ở chợ Đông Ba, một ít trái cây và không quên mang theo cây đàn ghita rồi lên xe đi về đầm Chuồn khi trời đã xế chiều.

Hoàng hôn trên đầm

Những cánh đồng lúa vàng hai bên con đường nhựa hướng về xã Phú An những ngày đầu tháng 5 đang vào mùa gặt thơm mùi rơm rạ. Bên ngoài khung cửa kính ôtô là cảnh quê thanh bình với hình ảnh những đàn trâu gặm cỏ bên đồng lúa vàng.


Xe chạy chừng 15 phút, men dọc con đường bêtông đến cuối làng An Truyền, thêm vài bước chân nữa du khách đã đến con đê kiên cố bên bến đò đầm Chuồn. Ở đây, đò của các quán trên đầm đã đợi sẵn, du khách du lịch hè 2018 có thể tùy chọn bất kỳ quán nào để bắt đầu trải nghiệm một đêm trên đầm Chuồn.

Chúng tôi chọn đò của Dũng, một ngư dân làng Chuồn, chủ nhân của Đầm Chuồn hội quán nằm giữa đầm nước, có sức chứa lên đến 400 người với toàn bộ kết cấu hoàn toàn làm từ tre lồ ô.

Sau ít phút lênh đênh trên đầm, đò cập quán, du khách bước nhanh lên chiếc cầu thang lót vạt tre rồi dồn đến một góc quán ngắm... hoàng hôn. Mặt trời như một quả bóng bay đỏ rực bị một đứa trẻ con nhẹ tay kéo xuống.

Ánh vàng hoàng hôn nhuốm ánh vàng lên mặt hồ ngày càng yếu ớt rồi khuất bóng sau mái nhà chồ. Những dải lưới bao quanh cũng trở nên huyền hoặc như lớp lớp dải lụa vàng trên bóng nước rồi cũng lịm dần trong bóng tối.

Những du khách lần đầu đến đầm Chuồn đã kịp ghi cho mình những bức ảnh hoàng hôn tuyệt đẹp giữa mênh mông đầm phá. Trong khi đó, nhóm nữ khách lùi vào sau bếp để “đi chợ” với tất cả hải sản đầm phá vẫn còn bơi lội trong các oi cá thả trên mặt đầm.

Tùy theo khẩu vị, du khách có thể cầm vợt chọn các loại hải sản, các món cá vảy trắng (cá móm, cá hanh, cá vượt...), cá da trơn (cá nâu, cá mú, cá dìa, cá kình...) hay tôm sú, cua nước lợ. Vợ Dũng tư vấn từng loại cá, giá cá rồi mang vào chế biến trong sự háo hức của du khách.

Trong chốc lát, những món hải sản tươi ngon dưới bàn tay chế biến dân dã của các chị làng Chuồn đã được bày biện bắt mắt trước mắt thực khách. Lót dạ với hải sản đầm phá, chiêu thêm ngụm rượu gạo làng Chuồn nồng cháy nức danh khiến du khách cứ xuýt xoa...

Đêm trăng thanh bình

“Anh chị về mấy ngày ni là hên rồi, đúng ngày rằm nên trăng sáng vằng vặc. Từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 đầm đẹp nhất. Đây cũng là mùa người dân đi xiếc (hai người kéo lưới hai bên), thả lừ, đánh lưới và vụ chính nò sáo” - Dũng nói, rồi mời du khách lên hai chiếc đò máy đã đợi sẵn để cùng ra đầm xem ngư dân kéo lưới bắt cá dìa.

Con đò lướt nhẹ chở du khách đến điểm thả lưới cách quán chưa đến 50m. Trăng sáng soi bóng hai vợ chồng ngư dân đang kéo lưới dài cả trăm mét tròng trành trên mặt đầm.

Du khách cứ trầm trồ vỗ tay cổ vũ theo từng sải lưới được kéo lên. Cứ vài sải lại có cá dìa to bằng bàn tay mắc lưới vùng vẫy. Dũng cho biết tháng 7 là ngư dân đầm Chuồn bắt đầm om cá dìa giống, đến tháng 10 thả cá dìa xuống đầm và thu hoạch từ tháng 3 cho đến tháng 7 năm sau.

Trên đầm có các loại cá dìa, cá hồng, cá mú, cá nau, cá ong bầu, tôm sụ và cua được nuôi bằng chắn sáo (hay còn gọi là vây ví), chưa kể những loại cá như cá cồi, cá ong hương, cá thệ... có thể đánh bắt tự nhiên.

Kéo lưới trở về, du khách cầm ghita hát ca chờ nồi cháo cá dìa nấu hành mới mắc lưới tức thì. Dưới sương đêm, nhạc tấu khúc tình trăng mơ màng trong làn gió tinh khiết của đêm trăng thanh bình...


Chúng tôi tiếp tục xuống bến, tự mình chống đò len lỏi vào trộ sáo rồi nằm ngửa trên đò ngắm trăng rằm. 1g sáng, du khách du lịch Huế bắt đầu thấm mệt, ngưng tiếng đàn ca rồi ngả lưng trên chiếu chăn đã được chuẩn bị sẵn.

“Ngư dân đầm Chuồn tui sướng nhất thế giới, đêm ngủ khách sạn ngàn sao, có gió ru ngủ, có sương sa không cần điều hòa mà vẫn mát rượi” - Dũng tự hào nói.

5g30 sáng, mặt trời ló dạng, ươm màu rực rỡ lên đường chân trời phía Đông. Du khách tiếp tục xuống đò xuôi dòng nước về phía cửa biển Thuận An xem ngư dân quăng lưới đánh bắt sớm.

Rồi đò ngược về phía làng Chuồn xem thương lái mua tôm cá ngay trên mặt đầm trước khi cập bến tiễn khách.

Trên đường về, chúng tôi ghé vào chợ Chuồn ăn sáng với món bánh khoái cá kình dân dã nổi tiếng.

Du khách còn có thể thoải mái chọn những rổ cá tươi ngon ở hàng cá, mang ra hàng bánh để các mệ đổ bánh khoái. No nê một bữa bánh khoái cá kình, du khách về thành phố mà chợt nghĩ còn biết bao “bến quê” nữa mà mình chưa trở về…

Đầm Chuồn thuộc làng An Truyền (còn có tên là làng Chuồn, xã Phú An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế), cách trung tâm TP Huế chưa đến 10km về hướng Đông Nam. Đầm Chuồn thuộc hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, lớn nhất Đông Nam Á.

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

Nhớ lắm bánh canh cá lóc Thủy Dương

Mỗi lần có dịp đi ngang phường Thủy Dương (thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế), tôi lại tranh thủ dừng chân bên đường để thưởng thức món bánh canh cá lóc tuyệt ngon nơi đây.

Đối với tôi và nhiều du khách du lịch Huế 5 ngày, đã nói đến bánh canh cá lóc thì phải nhắc đến Thủy Dương. Có người nói, Thủy Dương chính là nơi xuất xứ của món ăn dân dã này. Thực hư chưa rõ, chỉ biết rằng nơi đây có hàng chục quán bánh canh san sát nhau dọc hai bên đường.


Cách chế biến món ăn dân dã này khá đơn giản, với thành phần chính là bột gạo và cá lóc. Bột được nhào nặn cho dẻo dai rồi cán mỏng và thái thành sợi vừa phải. Với những ai lần đầu ăn món này, ắt sẽ rất ngạc nhiên và ngưỡng mộ tài thái bột của cô chủ quán. Một tay cầm bột, một tay cầm dao, thao tác thoăn thoắt như máy. Những sợi bột nhanh chóng rơi thẳng vào nồi nước đang sôi để luộc chín.

Cá lóc được luộc chín, tách lấy thịt rồi um với gia vị cho thấm. Xương cá được giã nhuyễn, lọc lấy nước dùng làm nước nấu cùng với nước luộc cá. Đây cũng chính là bí quyết giúp nước cháo luôn ngon ngọt tự nhiên.


Tất cả đều được sơ chế riêng: nước dùng có nồi riêng, bột được luộc riêng, cũng như cá được um riêng. Sau đó mới cho vào tô từng thứ một. Tùy theo sở thích của khách tour Da Nang Hoi An Hue 5 ngay 4 dem mà chủ quán sẽ gia giảm lượng bột và cá sao cho phù hợp nhất.

Món này được ăn nóng, vừa thổi vừa ăn mới đúng điệu. Bột được luộc chín vừa phải nên khi ăn dai dai rất tuyệt, mà lại không hề ngán chút nào. Thịt cá cũng không hề bị nát và tanh. Vị ngọt tự nhiên của cá chính là điểm cộng cho món ăn này.

Thủy Dương nằm dọc quốc lộ 1A, giáp ranh với thành phố Huế về phía Nam. Vì thế, bánh canh cá lóc Thủy Dương không chỉ là món ăn ưa chuộng cho người dân địa phương mà còn là món ăn hấp dẫn của không ít người ra Bắc hay vô Nam…

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Sức hấp dẫn khó cưỡng của ẩm thực Huế

Du lịch Huế nổi tiếng với ẩm thực cung đình cao sang và mĩ vị, tuy nhiên các gánh hàng rong, các món ăn bình dân cũng có sức hấp dẫn khó cưỡng.

Du lịch Huế ăn gì mới đúng chất?

CƠM HẾN


Cơm hến ngon nhất chỉ có ở Huế. Cơm hến tuy là món ăn dân dã có khắp mọi nơi dù ở thôn xóm hay đường quê, nghèo mà vẫn sang, đậm đà hương vị. Cơm hến được làm từ cơm trắng nấu chín và để nguội. Người ta cho phần thịt hến cùng các phụ gia, thêm tóp mỡ được chiên giòn. Cơm hến có thêm chút mắm ruốc Huế vừa bùi, chát, cay và hăng. Được ăn kèm với phụ gia là rau sống gồm có: rau sống, bắp chuối, giá đỗ và ít thân khoai môn trắng thái nhỏ. Lạc được rang vàng và phi dầu vàng cho có màu đẹp mắt.

Cơm hến ngon nhất là ở cồn Hến, hoặc quán chị Nhỏ, bán trong ngõ đường Phạm Hồng Thái, góc giao với Trương Định – nhưng chỉ bán buổi sáng, đến trưa là hết, hoặc không thì ăn ở số 2 Trương Định. Cơm hến khá rẻ, một tô chỉ khoảng 10.000 đồng.

CÁC LOẠI BÁNH HUẾ: BÁNH BÈO, BÁNH BỘT LỌC, BÁNH KHOÁI

Có dịp du lịch Huế mới thấy bánh bèo gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân cố đô như thế nào. Khoảng từ 3 đến 5 giờ chiều, trên các ngõ phố, những phụ nữ quẩy gánh trên vai hoặc chiếc thúng nhỏ cắp ngang hông, đi bán bánh bèo, bánh lọc đến từng nhà. Người Huế rất thích và đã thành thói quen dùng loại bánh đầy hương vị quê nhà này vào các bữa ăn phụ.

Các bạn có thể đến các “Khu phố Bánh bèo” như: cung An Định, đường Ngự Bình, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm… để tận mắt thưởng thức “văn hóa bánh bèo” tại đây.

Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò (hoặc chim) nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống. Bánh ngon một phần nhờ nước lèo, thứ nước chấm chỉ các đầu bếp giỏi mới chế được. Ðây là bí quyết gia truyền, quyết định chất lượng, tạo nên hương vị thượng hạng của bánh khoái.

Bánh khoái nổi tiếng nhất là bánh khoái Thượng Tứ, quán có 3 chi nhánh là Lạc Thiện, Lạc Thạnh và Bạch Yến.

CƠM CHAY HUẾ


Nếu bạn muốn có một bữa ăn thanh đạm và để cơ thể được thanh lọc thì hãy thử một bữa cơm chay tại Huế. Các món chay cũng rất đa dạng và phong phú, chỉ từ rau, củ, nấm, đậu phụ… nhưng bạn đã có một bữa cơm đầy đủ và thịnh soạn vô cùng.

Khách đến Huế, nếu thích được thưởng thức một bữa cơm chay thì ngoài những Phật tử biết nấu cơm chay ngon để mời thân mật ở gia đình, có thể liên hệ các chùa để thưởng thức một bữa cơm chay Huế đặc biệt. Bạn đến chùa nào cũng được, nhưng tốt hơn cả là chùa Từ Đàm, vì ở đây là chùa sư nữ nên có nhiều ni cô nấu cơm chay ngon, lại ở ngay trong thành phố – trên đường Điện Biên Phủ.

Ngoài ra, các bạn cũng có thể đến quán cơm chay Liên Hoa – số 3 đường Lê Quý Đôn để thưởng thức các món chay. Giá các món chay tại đây cũng khá rẻ.

BÚN BÒ HUẾ

Bún bò Huế chính là linh hồn của ẩm thực Huế, độ ngon và nổi tiếng của món ăn này chắc không phải bàn nhiều. Bún bò Huế có một miếng chân giò, một miếng giò tự nắm, một miếng tiết lợn nhỏ và tất nhiên phải có vài lát thịt bò. Rau ăn kèm cũng rất tươi và phong phú. Địa chỉ ăn bún bò Huế nổi tiếng nhất: 13 Lý Thường Kiệt (cạnh Nhà khách Công đoàn). Ngoài ra, khắp nơi ở Huế bạn cũng sẽ dễ dàng tìm thấy một quán bún bò chất lượng. Giá một tô bún bò Huế khoảng 30.000 đồng.

BÁNH CANH BÀ ĐỢI


Nằm trên đường Đào Duy Anh, ở cuối một con hẻm nhỏ có một quán bánh canh không bảng hiệu. Quán hoạt động theo lối gia đình ít nhân công nên khách thường phải đợi hơi lâu, vì thế quán được khách quen gọi là quán bà Đợi (người Huế quen gọi là mụ Đợi). Dù bánh canh của quán này được thái sợi dẹt như kiểu Quảng Bình chứ không nén khuôn sợi tròn, nhưng nước dùng thì đặc phong cách Huế.

Nước dùng của quán này có vị đậm đà và thơm tự nhiên của tôm. Khi tô bánh canh được bưng ra, nước trong, chả và tôm tươi giòn sần sật, thực khách sẽ gia thêm tiêu, muối, chanh, tương ớt dầu và hành lá thái nhỏ bầy sẵn trên bàn, mặc dù tự nước dùng trong tô đã đủ ngon vị lắm rồi… Vì vậy mà hiếm khi khách bỏ sót nước dùng trong tô bánh canh ở quán bà Đợi.

BÚN THỊT NƯỚNG, BÁNH ƯỚT THỊT NƯỚNG

Điểm đặc biệt của hai món này nằm ở thịt nướng. Thịt ở đây ướp vừa đủ, không át mùi thơm của, miếng thịt mềm chứ không bị khô, và mang một hương vị đặc trưng, khá đặc biệt so với những nơi khác. Nước chấm ăn kèm cũng vừa miệng, điều đặc biệt là có rất nhiều rau sống, tươi mát và xanh ươm.

BÁNH CHƯNG NHẬT LỆ

Đây là món ăn nổi tiếng ở Huế và có xuất xứ từ con phố Nhật Lệ trong thành Nội, nơi tập trung hàng chục lò làm bánh. Bánh thơm dẻo, ăn rất khoái khẩu do sự kết hợp nhuần nhuyễn mùi vị giữa nhân đậu, thịt (mỡ và nạc) với gạo nếp và các loại gia vị như tiêu, hành. Người ăn quen lâu ngày thành nghiện, thành thèm.

Ăn bánh chưng Nhật Lệ khi nguội ngon hơn khi nóng. Bóc lớp lá chuối ra, màu bánh xanh thơm nhức mắt. Cắn một miếng, nhân đậu thịt mỡ màu nâu trắng béo bùi ngập chân răng.

NEM LỤI CHẤT HUẾ


Nhiều người thường nói “Nem lụi là một trong những món ăn đặc sệt Huế”. Ở đường Nguyễn Huệ có hai quán nem lụi. Suốt ngày đêm quán nào cũng chật ních người ăn. Khách hàng lần đầu ăn nem lụi, ai cũng xuýt xoa khen ngon để rồi ăn tiếp lần hai, lần ba, thậm chí ăn hàng ngày như dân “nghiện” và lần nào cũng vẫn cứ khen ngon.

Khi ăn, lấy bánh đa nem gói thịt viên nướng cùng với rau, thơm, khế, giá, lát chuối xanh thái mỏng, miếng vả thái sống, ớt màu… lấy lá hành buộc lại rồi chấm với một thứ nước đặc biệt gọi là nước lèo. Nước lèo dùng cho nem lụi được pha chế từ hàng chục nguyên liệu khác nhau như dầu thực vật, gan lợn, bột đao, đường, tương nước mắm, quế chi, hoa hổi trộn với nước cốt dừa.

CƠM ÂM PHỦ

Du khách đến Huế nghe tên món cơm kỳ lạ này có thể giật mình nhưng với người dân nơi đây, đó là món ăn quen thuộc, được bày bán khá nhiều ở các nhà hàng và quán cóc ven đường. Cơm âm phủ thực chất là món cơm bình dân nhưng được trình bày rất bắt mắt. Cơm trắng ở giữa, xung quanh đặt thức ăn gồm thịt ba rọi, chả lụa Huế, tôm, nem Huế nướng, trứng tráng, rau thơm, dưa leo…tạo thành 7 màu rực rỡ.

Thành phần của cơm âm phủ ngày nay có thể thay đổi theo yêu cầu của thực khách, nhưng phải đảm bảo có đủ màu sắc, tượng trưng cho 7 bước chân đầu tiên của Đức Phật. Nếu muốn thưởng thức đúng hương vị của món ăn độc đáo này, bạn có thể đến quán cơm mang tên “Âm phủ” trên đường Nguyễn Thái Học, gần sân vận động Huế.

Là nơi sáng tạo ra cơm âm phủ, quán đã tồn tại ngót gần một thế kỷ và được lưu truyền qua nhiều thế hệ đến ngày nay. Nhiều người kể lại rằng, do trước đây quán chỉ mở vào đêm khuya, bên trong thắp ngọn đèn dầu leo lắt, tạo nên khung cảnh kỳ bí nên quán cơm “Âm phủ” cũng có tên từ đó.

CHÈ HẺM

Ông bà ta ngày xưa thường nói nếu ngoài Hà Nội có “36 phố phường” thì Huế cũng có “36 thứ chè”. Không ai biết chè hẻm có ở Huế từ bao giờ mà chỉ biết gọi là thế, bởi nó thường nằm sâu trong các ngõ ngách với rất nhiều loại chè khác nhau.

Mỗi loại chè có một hương vị riêng, ngon bổ, tinh tế và cầu kỳ như chính con người nơi đây. Chè bắp ngọt mát tinh khiết, vừa thơm vừa bùi nấu từ bắp ngô non của cồn Hến, chè hạt sen với thứ hương trầm thật lạ của giống sen hồ Tịnh Tâm – loại sen “tiến vua”. Lại còn chè nhãn bọc hạt sen ngọt thanh, thơm bùi và nhiều loại chè như chè hạt lựu, chè trôi nước, chè khoai sọ, chè bột lọc…

Có một loại chè nghe rất lạ tai mà chỉ Huế mới có: chè bột lọc thịt heo quay. Được chế biến cầu kỳ từ những miếng thịt heo quay cắt khúc nhỏ, bọc ngoài là bột nếp, cho thêm đường nấu thành chè. Khi ăn, món chè này cho ta một cảm giác rất lạ, vừa ngọt lại vừa mặn, béo ngậy khó diễn tả thành lời…

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2016

Du lịch Huế thưởng thức cơm trái dừa


Muốn làm thứ cơm này phải dùng loại gạo ngon nấu với nước dừa nạo. Cơm sau khi nấu chín được trộn với thập cẩm như lạp xường, tôm, đậu petit-pois, thịt heo và chả Huế.

Trước khi ăn dùng trái dừa xiêm (dừa nạo) vạt miệng đổ nước ra (nước dùng để nấu cơm), cho cơm thập cẩm trộn sẵn vào trái dừa. Sau đó đem hấp cách thủy, cho nóng lên, khói bốc nghi ngút. Khi ăn dùng nĩa, xúc trực tiếp vào trái dừa, ăn với nước chấm tương ớt. Khi hấp cách thủy, cơm dừa vẫn để nguyên trong trái dừa, nhằm làm tăng độ thơm và cả chất béo của cơm. Trong cung đình, cơm trái dừa được hấp cách thủy bằng loại dừa xiêm có trái thật nhỏ, chứa khoảng 1 bát cơm nhỏ. Khi món ăn này ra khỏi cung đình, trở thành phổ biến, du lịch Huế chọn trái dừa xiêm lớn hơn vì ngoài mục đích thưởng thức ra, còn dùng để ăn cho đủ no. 


Cơm trái dừa được nêm nếm vừa ăn trước khi đem đi hấp, do đó khi ăn thực khách du lịch Huế không phải dùng thêm nước chấm. Ngoài ra nếu khách không muốn ăn cơm dừa thập cẩm, có thể yêu cầu tiệm cho vào cơm những món ăn mà mình ưa thích như lạp xường, tôm, thịt heo hoặc chả Huế.

Ăn từng muỗng nhỏ, nhai chậm rãi để thưởng thức được mùi vị của món ăn cung đình này. Nó có mùi thơm của nước dừa xiêm, ngọt, béo, hạt cơm bóng mượt. Cái thú khi ăn cơm trái dừa là ăn trực tiếp trên trái dừa, không phải ăn bằng chén. Với trái dừa xinh xắn trắng ngà, mùi thơm của dừa hòa quyện cùng làn khói bốc lên làm cho tất cả các giác quan đều hưởng trọn vẹn hương vị của món ăn của du lịch Huế.