Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Chợ Phiên Đồng Văn nét đặc sắc tiêu biểu của văn hóa vùng cao

Chợ phiên là nét văn hóa độc đáo của vùng núi phía Bắc. Một trong những phiên chợ tiêu biểu và được du khách du lịch Đồng Văn Mèo Vạc biết đến nhiều nhất đó chính là chợ phiên Đồng Văn.

Nằm giữa khu phố cổ của thị trấn Đồng Văn, chợ phiên Đồng Văn được họp mỗi tuần 1 lần vào ngày chủ nhật. Chợ phiên Đồng Văn chính là nơi trao đổi, buôn bán hàng hóa lớn nhất ở cao nguyên Đồng Văn– Mèo Vạc. Là trung tâm giao thương kinh tế, trao đổi hàng hóa lớn của các dân tộc vùng cao, đặc biệt chợ phiên nằm trong quần thể phố cổ Đồng Văn. Ở đây hội tụ nhiều sắc màu văn hóa mà không phải nơi nào cũng có được.


Chợ phiên Đồng Văn được diễn ra trên một khu đất rộng, với kiến trúc tổng thể hình chữ U, được xây dựng bằng vật liệu đá. Với kiến trúc rộng lớn đó, chợ phiên Đồng Văn thu hút rất nhiều mặt hàng (nông sản, rau quả, thịt thà, thổ cẩm…) của đồng bào các dân tộc nơi đây. Mỗi loại mặt hàng được được bày vào từng gian tạo thuận tiện cho người tìm mua.

Hỏi về lịch sử chợ Đồng Văn, có lẽ cũng không có ai biết chợ có từ bao giờ, chỉ biết cứ vào chủ nhật hàng tuần, người dân quanh vùng lại nhộn nhịp mang các sản phẩm của gia đình tự trồng hoặc tự sản xuất đến đây trao đổi, buôn bán. Bắt đầu từ 3 giờ sáng, khi mà sương mờ còn giăng mắc vùng cao này, đã thấy người dân vượt qua mấy ngọn núi để kịp xuống chợ phiên.

Chợ phiên trở thành nét đẹp sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong cuộc sống của các dân tộc vùng cao Hà Giang. Chợ phiên Đồng Văn đẹp ngỡ ngàng với đủ màu sắc sặc sỡ trang phục của người dân tộc Dao, Mông, Tày, Nùng, Giáy, Lô Lô… Không khí giao thương, buôn bán làm cho phố cổ tĩnh lặng bỗng trở nên đông vui, náo nhiệt. Chủ nhật dường như đã trở thành ngày hội trong lòng nhưng con người nơi đây. Đồng bào đến với chợ phiên Đồng Văn ngoài mua bán, trao đổi hàng hóa còn để giao lưu, gặp gỡ mọi người, tụ tập bè bạn đặc biệt là nơi hẹn hò của các chàng trai, cô gái.

Chợ phiên Đồng Văn là khu chợ cổ, trong quần thể phố cổ Đồng Văn. Bởi vậy cứ tới ngày 14, 15, 16 âm lịch hàng tháng nơi đây lại diễn ra các hoạt động sinh hoạt văn hóa vô cùng đặc sắc, tiêu biểu của vùng cao: chọi chim, trình diễn dệt thổ cẩm truyền thống giữa các dân tộc vùng cao nơi đây. Đây là nét văn hóa độc đáo vô cùng khác lạ của chợ phiên Đồng Văn, Hà Giang mà không phải nơi đâu cũng có được.


Chợ phiên Đồng Văn trở thành một phần vô cùng gần gũi và vô cùng thiêng liêng trong đời sống, văn hóa của mảnh đất địa đầu tổ quốc Hà Giang, không phải chỉ là một cái chợ theo cái nghĩa đen của nó. 

Một nét đẹp vô cùng bình dị ở nơi đây mà bất cứ du khách du lịch Hà Giang nào ghé thăm chợ phiên này đều nhận thấy. Người dân đến với chợ phiên thường đi cả gia đình, hình ảnh những người phụ nữ mua bán trao đổi hàng hóa, bên cạnh đó thì những ông chồng ngồi bên những ly rượu ngô tâm và những bát thắng cố (đặc sản Hà Giang) ngồi tâm sự, uống rượu cho đến khi say khướt…

Chợ phiên Đồng Văn là một nét đẹp độc đáo của miền đất địa đầu Tổ quốc, du lịch Hà Giang bạn đừng quên khám phá nơi đây nhé!.

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

Khám phá nét hoang sơ kỳ vĩ của mũi Bàn Than

Nói đến du lịch Quảng Nam ngoài Phố Cổ Hội An, Cù Lào Chàm, Thánh địa Mỹ Sơn, Thác G’răng,… thì còn rất nhiều điểm đến hấp dẫn và thú vị khác trong đó có một ghềnh đá được xem như một trong những tuyệt tác của thiên nhiên đã ban tặng cho xã đảo Tam Hải – huyện Núi Thành, có bạn có biết địa danh danh này không nào? Đó chính là Ghềnh đá Bàn Than

Ghềnh đá Bàn Than sẽ dễ khiến du khách du lịch Quảng Nam Đà Nẵng liên tưởng ngay đến bãi biển ở đảo nhỏ của đảo Lý Sơn. Tuy nhiên, thắng cảnh này còn mang trong mình nhiều nét độc khác đang chờ các bạn đến khám phá.


Ghềnh đá Bàn Than nằm tại địa phận của xã đảo Tam Hả – huyện Núi Thành, cách Tp. Tam Kỳ khoảng 40km về hướng Đông Nam. Xã đảo Tam Hải được xung quanh bốn phía đều được bao là nước: một mặt với giáp biển và ba mặt còn lại giáp sông. Bởi vậy, các bạn muốn đến ghềnh Bàn Than, phương tiện duy nhất để có thể di chuyển từ đất liền là thuyền hoặc đò. Nếu bạn đi từ Đà Nẵng, bạn hãy đi thẳng QL.1A, đến với huyện Núi Thành, tại cột mốc cây số 1020, bạn hãy rẽ về phía biển chừng 10km. Bến đò xã Tam Quan sẽ đưa bạn ra Tam Hải, đến với ghềnh Bàn Than.

Giữa một trời mây sông nước và những hàng dừa cao vút, ghềnh đá Bàn Than hiện ra, vớ mộti “lớp áo” đen tuyền kì vĩ. Đây cũng chính là gốc tích của cái tên Bàn Than mà người dân địa phương đặt cho địa danh này.

Mỗi dãy đá đen tuyền như than đá trải dài trên bờ cát. Nhiều vách đá đen được dựng đứng sát mép biển, với các độ cao và kích cỡ khác nhau (có vách cao nhất gần 50m).


Đá ở nơi này dưới sự xâm thực của sóng biển và qua thời gian, đã tạo thành vô vàn hình thù lạ mắt và độc đáo. Ở bãi Nồm – là trung tâm của Bàn Than hiện ra với những tảng đá đen đầy hình dáng gai góc tựa như những: cá mặt quỷ, thủy quái, cá voi,… Ở đây, có hai mỏm đá dài nhỏ nhô ra ngoài biển, được người địa phương quen gọi là ông Đụn và Bà Che, gắn với sự tích về tình nghĩa vợ chồng ấm áp và tình mẫu tử thiêng liêng.

Trái với sự góc cạnh, những mõn đá ở bãi Bắc lại tròn trịa và nhẵn nhụi, trông giống những loài hải cẩu, rùa biển… Giữa những dòng nước trong xanh của biển cả, những tác phẩm đầy tính nghệ thuật của tạo hóa, chắc chắn sẽ khiến du khách du lịch biển hè 2018 xuýt xoa khi nhìn thấy.

Nhiều tảng đá có bề mặt bị bào mòn bởi nước biển, trông như những tác phẩm nghệ thuật trừu tượng của thiên nhiên. Bên cạnh màu đen tuyền đặc trưng, đá ở Bàn Than còn sở hữu nhiều màu sắc khác nhau: nâu, vàng, đỏ…

Trên nền xanh của nước biển nổi lên những vách đá sắc đen như than với những vân, đường nét kỳ lạ. Bên cạnh đó còn có những hồ nước tự nhiên trong veo len lỏi giữa các khe đá khiến khung cảnh thêm phần thơ mộng.


Đến ghềnh Bàn Than, ngoài việc được tham quan và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các ghềnh đá, các bạn còn có dịp được khám phá những nét hoang sơ của thế giới biển qua những rạng san hô lớn kéo dài chừng 10 km. Rạng san hô này được xem như là một nơi tập trung sinh sống của rất nhiều loại hải sản quý và có giá trị cao như: tôm hùm, ốc hương, tôm sú, cá mực… Đặc biệt, nơi đây là nơi sinh sản và phát triển của các loại ấu trùng tôm hùm.

Xã Tam Hải là một trong những số ít nơi trên đất liền có thể nhìn thấy mặt trời lặn biển. Vì vậy, một điều thú vị bạn sẽ không nên bỏ qua khi đến Bàn Than và ghé Tam Hải ngắm hoàng hôn tại đây nhé. Những ánh nắng chiều soi lung linh trên mặt biển phía xa xa đường chân trời, mặt trời nhìn như một quả cầu lửa khổng lồ đang dần dần “chìm” xuống biển. Khung cảnh như một vùng nước bao la như được dát vàng bởi ánh hoàng hôn huyền ảo, chắc chắn sẽ khiến bạn ngẩn ngơ hoài không thôi.

Bàn Than có nét hoang sơ và kì vĩ, Tam Hải lại mang đến sự yên tĩnh và thanh bình, bạn hãy một lần đến với Bàn Than, đến với Tam Hải để có thể cảm nhận được trọn vẹn hơn vẻ đẹp non nước hữu tình xứ Quảng và có được những trải nghiệm tuyệt vời của cuộc sống nơi miền quê sông nước bạn nhé.

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

Vẻ đẹp tinh khiết thơ mộng của núi Túy Vân

Cách thành phố Huế chừng 50km về phía nam, Túy Vân - Núi Rùa (xã Vinh Hiền, Phú Lộc) có cái tinh khiết, trong trẻo gần như tuyệt đối của một vùng trời, nước và đảo hoang sơ, ít dấu chân người.

Du khách du lịch Huế 5 ngày đến tham quan núi Túy Vân thường đi theo hai đường: từ thành phố Huế về Thuận An, rồi đi theo đường ven biển để đến núi, hoặc từ Huế qua quốc lộ 1A về Đá Bạc, từ đây đi đò máy qua đầm Cầu Hai thì đến nơi, đường dài khoảng 30km


Túy Vân là một ngọn núi nhỏ gần cửa Tư Hiền, nổi lên giữa một hòn đảo xanh, hùng vĩ, ngày xưa có tên gọi là Mỹ Am Sơn. Núi có dáng dấp đẹp, trong một lần chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) đi qua đây, thấy phong cảnh thơ mộng, hữu tình, bèn lập một ngôi chùa nhỏ làm nơi cầu phúc cho dân địa phương.

Đến đời vua Minh Mạng cho xây dựng lại và đổi tên là chùa Tuý Ba. Năm vua Minh Mạng thứ 17 (1837), chùa được tùng tu và xây dựng thêm lầu. Đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), chùa được tiếp tục trùng tu và đổi tên chùa Tuý Vân.

Vua Thiệu Trị liệt Tuý Vân vào thắng cảnh của đất thần kinh trong bài thơ "Vân Sơn thắng tích" và cho khắc bia đá dựng bên chùa đặt tên "Linh Thái, Túy Vân hệ nhị quốc gia chi thắng cảnh" (Linh Thái, Tuý Vân đều là thắng cảnh của quốc gia). Qua bao năm tháng chiến tranh, chùa, lầu gác hư hại nhiều, hiện nay công tác bảo tồn vẫn đang được thực hiệnTrên đỉnh Túy Vân, nổi lên có ngọn tháp ba tầng là Điều Ngự. Đứng ở tầng 2 và 3, có thể nhìn thấy hết toàn cảnh của huyện Phú Lộc. Giữa lưng chừng núi là chùa chính, dưới chân núi còn có ngôi Chùa Lớn làm chỗ ở cho chư tăng, trước và sau chùa có nhiều cây lá sum suê. Đặc biệt, trên hàng trăm tầng cấp của chùa có nhiều cây thông cổ thụ sừng sững.


Từ núi Túy Vân nhìn phía đông khoảng 700m có núi Linh Thái, còn gọi là Quy Sơn hay Núi Rùa. Một lần chúa Nguyễn Phúc Tần đến đây, thấy ở đỉnh núi có ngôi tháp Chàm được người dân địa phương cho biết rất linh, bèn cho dời ngôi tháp đi nơi khác rồi lập chùa thờ Phật với tên gọi Vĩnh Hoà.

Từ chân núi Túy Vân du khách tour hè 2018 sang bãi biển đá dưới chân Núi Rùa chỉ mất chừng 10 phút. Ở đây, các quần thể đá to nhỏ chồng xếp lên nhau tạo ra những hốc động thật kỳ thú. Từng mảng sóng bạc đầu dội vào hốc đá vút lên cao mù mịt liên hồi. Tiếng sóng, gió biển hoà với tiếng reo của lá cây tạo nên một sự cộng hưởng của âm thanh hoang dã.

Trên một dải cát hẹp của bờ biển, các quần thể đá hình như những con rùa là nơi tập trung nhiều loại vỏ hải sản tấp vào bờ, tạo dáng như một hòn non bộ rất bắt mắt. Du khách đến đây sẽ thích thú khi đi dạo quanh núi rừng và ven theo con đường ven biển rợp bóng dương, đọc sách, bơi, ăn đồ biển và ngủ trên cát. Những người thích mạo hiểm hơn thì băng qua những tảng đá và phải "chịu trận" của từng đợt sóng để đứng trên tảng đá cao ngất ngưỡng giữa không gian bao la.

Vẻ đẹp quyến rũ của Hải Đăng Kê Gà

Hải đăng Kê Gà là ngọn hải đăng cao nhất và cổ xưa nhất Việt Nam, nằm trên một hòn đảo thuộc xã Thuận Quý, thuộc huyện Hàm Thuận Nam, cách thành phố Phan Thiết 30 km về hướng Tây Nam.

Có nhiều giải thích về tên gọi Kê Gà hay còn gọi là Khe Gà. Cách giải thích phổ biến nhất là vì mũi đất này có khe giống đầu mỏ của một con gà. Một cách giải thích khác cho rằng ngày xưa ở đây có nhiều gà rừng sinh sống. Thời Pháp thuộc, khi vẽ bản đồ hành chính người ta ghi là Kéga, theo cách phát âm của người Pháp, về sau quen gọi là Kê Gà.


Nhìn từ đất liền qua những bãi đá, đảo hải đăng vô cùng quyến rũ. Mỗi khi bình minh hay hoàng hôn, hải đăng Kê Gà trở nên đẹp tuyệt vời bởi sự phản chiếu của ánh sáng với bãi đá vàng tạo nên những khung cảnh huyền hoặc. Gần các phiến đá lớn nước sâu, có rất nhiều loại cá và du khách vẫn có thể câu được cá lớn tại đây.

Theo lịch sử hàng hải ở khu vực này, mũi Kê Gà xưa kia được coi là một vị trí cực kỳ hiểm yếu của vùng biển từ Phan Rang đi Vũng Tàu. Vào các thế kỷ trước, đã có nhiều thuyền buôn qua lại nơi đây và bị đắm. Chính vì thế, người Pháp đã nghiên cứu và cho xây dựng ngọn hải đăng Kê Gà.

Cuối năm 1898 hải đăng Kê Gà, do kiến trúc sư người Pháp Snavat thiết kế, được hoàn thành và đưa vào hoạt động năm 1900. Như vậy tính đến nay ngọn hải đăng này đã 110 tuổi, được xem là ngọn hải đăng "già" nhất Việt Nam.


Hòn đảo, nơi xây dựng ngọn hải đăng, có diện tích khoảng 5 ha. Trên đảo có hàng ngàn hòn đá hoa cương vàng màu sắc tuyệt đẹp, thiên hình vạn trạng và cả trăm cây sứ đại thụ to lớn. Ngọn tháp hải đăng hình bát giác, xây trên đỉnh cao nhất của đảo. Tháp đèn xây bằng đá cao 35 m, độ cao toàn bộ từ tầm ngọn đèn đến mặt biển là 65 m (tương đương với tòa nhà cao 12 tầng). Kích thước cạnh của tháp rộng 3 m, đỉnh rộng 2,5 m, chiều dày tường tháp từ chân tháp đến độ cao 6m là 1,6m, càng lên cao độ dày càng giảm từ 1,5m và mỏng nhất ở đỉnh tháp là 1m. Trên ngọn tháp có bóng đèn lớn 2.000W, có bán kính quét sáng 22 hải lý (tương đương 40 km).

Bên trong hải đăng có 183 bậc thang xoắn ốc bằng thép cùng hàng chục bậc tam cấp dẫn lên đến đỉnh đèn. Chiếc cầu thang xoáy ốc này thực sự là một tác phẩm tuyệt đẹp mà không một nhiếp ảnh gia chuyên hay không chuyên nào đến đây có thể bỏ qua. Trên tháp có một balcon rộng, từ đây, khách tham quan có thể nhìn toàn cảnh cả vùng trong gió biển lồng lộng. Đứng nơi đây nhìn ra, choáng ngợp bởi mênh mông biển trời và gió, bạn sẽ vừa nhận ra sự nhỏ bé của mình, vừa ý thức được sức mạnh con người trước thiên nhiên.

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

Khám phá giá trị đặc sắc của danh thắng Ngũ Hành Sơn

Cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 11 km về phía Đông Nam, quần thể Ngũ Hành Sơn là danh thắng nổi tiếng, in đậm nhiều dấu ấn văn hóa lịch sử, cách mạng. Nơi đây nổi bật như một điểm nhấn trên hành trình du khách tour Đà Nẵng 5 ngày 4 đêm khám phá vùng đất miền Trung theo con đường di sản...


Không biết tự bao giờ, 5 ngọn núi đá giữa vùng đồng bằng cát trắng xứ Quảng này đã được đặt tên là Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ, hay còn được biết đến với cái tên quen thuộc là quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn. Theo các nhà nghiên cứu, 5 đỉnh núi được tạo hóa khéo léo sắp đặt theo cấu trúc “tam thiên, lưỡng địa” gồm: Thủy Sơn, Mộc Sơn ở phía Đông; Kim Sơn, Thổ Sơn, Hỏa Sơn ở phía Tây. Giữa chốn “bồng lai tiên cảnh” này là sự hòa quyện giữa chùa chiền tĩnh mịch, hang động linh thiêng và những dấu ấn về cuộc đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ.

Từ đỉnh Thủy Sơn - ngọn núi cao nhất trong quần thể Ngũ Hành Sơn - ta có thể cảm nhận được vị mặn của biển theo ngọn gió bay vào, có thể phóng tấm mắt ra xa nhìn về thành phố Đà Nẵng hay hướng về phố cổ Hội An. Dưới chân những ngọn núi, những người thợ tài hoa của làng nghề điêu khắc đá Non Nước nổi tiếng hơn 300 năm vẫn ngày đêm miệt mài với đá. Từ vài ba chục cơ sở, đến nay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ đã thu hút hơn 4.000 lao động địa phương với hơn 400 cơ sở chuyên làm đá mỹ nghệ.


Đến với Ngũ Hành Sơn, du khách tour Đà Nẵng Hội An 4 ngày 3 đêm không chỉ được hòa mình vào không gian của những lễ hội đầu năm, của phong cảnh hữu tình, của làng nghề nhộn nhịp... mà còn là nơi lý tưởng cho một kỳ nghỉ mát bên bãi biển Non Nước trải dài cát trắng. Ngũ Hành Sơn được ví như hòn non bộ khổng lồ giữa lòng thành phố Đà Nẵng. Cùng với Bà Nà, Sơn Trà, nơi đây được xem là điểm dừng chân hấp dẫn đối với khách du lịch mỗi khi đến với miền Trung trên hành trình khám phá các di sản thế giới: Mỹ Sơn - Hội An - Huế.

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

Khám phá kiến trúc độc đáo nổi tiếng của cung An Định

Vua Khải Ðịnh (1916-1925) đã cho xây cung điện này từ một vương phủ nhỏ vốn là tiềm để của ông ta. Công trình chưa xong thì nhà vua băng hà. Hoàng tộc dùng An Ðịnh Cung làm nơi tiếp khách nước ngoài. Sau đó bà Từ Cung ở đó năm 1945-1950-1968-1975.


Cung điện vẫn còn nét kiến trúc truyền thống của nhà Nguyễn cộng với kiến trúc gothic in đậm trong những phong cách trang trí và các chi tiết kiến trúc như cột trụ, vòm cửa. Vật liệu xây dựng cũng tây hóa như bất kỳ một công trình nào được xây trong gian đoạn đó. Ði sâu vào lâu đài du khách du lịch Huế 5 ngày có cảm giác như đi vào một tòa lâu đài của một nhà quý tộc Tây Âu bởi sự phong phú về những phòng ốc, cầu thang, bởi những họa tiết hầu như xa lạc và truyền thống. Lá nho thay thế rồng phụng, hoa hồng thay thế hoa cúc, hoa sen. Ðằng sau cái cống bêtông là tòa nhà bát giác có tên là Trung lập đình, tòa nhà xinh xắn trong đó để pho tượng đứng của vua Khải Ðịnh nay để ở lăng Khải Ðịnh.

Nội thất Ðại Sảnh gồm 20 phòng nhưng phòng khách và hai phòng chiêu đãi ở tầng 1 là nơi đáng lưu ý. Trên tường phòng khách là sáu bức tranh vẻ cảnh lăng các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, Khải Ðồng, Ðồng Khánh. Tranh vẻ bột màu trên nền tường và những bộ khung thếp vàng bao quanh- 26 vòm cửa của cả căn phòng làm bằng gỗ mạ vàng với những hoa văn chạm trỗ rất tinh vi, sinh động.

Có lẽ đây là nơi bảo lưu nhiều kiệt tác sơn son thếp vàng- chính những bức tranh này cùng các họa tiết thếp vàng đã đem lại cho chúng ta sự quen thuộc ấm  áp như kéo du khách tour hè 2018 ra khỏi cảm giác lọt vào lâu đài phương Tây. Từ tầng này có cầu thang dẫn lên tầng 2,3 nơi trước đây là chỗ ở của bà Từ Cung và thờ thần linh.

Trong An Ðịnh Cung trước đây có nhà Cửu Tư Ðài một công trình kiến trúc nổi tiếng có nội thất trang trí sành sứ ghép- Loại hình phổ biến thời Khải Ðịnh, góp phần mang lại danh hiệu cho ông vua "Người con của những mảnh sành" mà người Pháp đã tặng cho ông.

Sau tòa nhà chính là vườn nuôi nai, cá sấu. Trên ban công một bức bình phong ở tầng 2 còn lưu lại dấu vết bài ngự chế An Ðịnh Cung do vua Khải Ðịnh viết vào mùa thu năm Canh Thân (1920) được khắc trên xi măng vôi vữa.

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Hương vị phong phú đặc sắc của ẩm thực miền Tây

Du lịch miền Tây luôn khiến các du khách phải ấn tượng với một nền ẩm thực phong phú, đặc trưng của vùng sông nước. Đến đây và thưởng thức dù chỉ một lần nhưng hương vị chắc chắn sẽ còn nhớ mãi.

Cá linh kho tiêu


Cá linh là loại cá nước ngọt có nhiều ở miền Tây Nam Bộ, đặc biệt tại những vùng An Giang, Long An, Đồng Tháp là những nơi có cá linh ngon nổi tiếng. Đầu mùa nước nổi là thời điểm cá linh ngon nhất, xương chưa cứng, thịt mềm non và bụng cá vẫn nhiều mỡ nên ăn rất béo.

Cá linh kho tiêu ăn với cơm nóng sẽ rất ngon. Khi ăn kèm thêm bông súng, bắp chuối bào, hoa điên điển ngâm chua, rau muống ngâm chua ngọt… khiến hương vị thêm đậm đà.

Canh chua cá lóc

Đây là món ăn quen thuộc đối với tất cả người miền Tây, đã về nơi đây, bát canh chua cá lóc ở đâu cũng ngon, ở đâu cũng nhớ.

Tô canh chua cá lóc ngon thì thịt cá có màu trắng, màu vàng của thơm, màu đỏ của cà và màu xanh của ngò gai, hành lá. Vị canh chua chua ngọt ngọt là hương vị đặc trưng của mỗi bữa cơm vùng sông nước nơi đây.

Gỏi củ hũ dừa Bến Tre


Củ hũ dừa là phần búp non nhất nằm giữa ngọn cây dừa. Gỏi củ hũ dừa đúng điệu thường có đủ tôm sú nõn bóc, thịt ba chỉ, tai heo luộc thái mỏng, củ hũ dừa bào mỏng, rau răm, hành tây, đậu phộng rang giòn… Tất cả trộn đều lên cùng các loại gia vị chua cay ngọt tạo thành một đĩa gỏi đầy màu sắc, đậm đà hương vị miền Tây.

Từ xưa đến nay, Bến Tre nổi tiếng được người ta gọi bằng cái tên thiên đường của dừa. Chính vì vậy những món ăn từ dừa của nơi đây luôn để lại một ấn tượng trong lòng du khách tour miền Tây 4 ngày 3 đêm thưởng thức.

Bánh xèo ốc gạo

Nếu có dịp ghé thăm Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, các bạn đừng quên một lần thử nếm món bánh xèo nhân ốc gạo nổi tiếng.

Không giống với các món bánh xèo khác, bánh xèo ở đây có nhân được làm từ ốc gạo. Sau khi ốc gạo được luộc chín, người ta lấy thịt bên trong ra rồi xào thơm với hành tây và hẹ thái mỏng, vì vậy nhân bánh ở đây có mùi vị rất lạ miệng và hấp dẫn.

Lẩu cháo cua đồng


Lẩu cháo cua đồng được biết đến là một món ăn bồi bổ tốt cho sức khỏe, giúp thanh nhiệt và hạ đường huyết. Đây là món ăn phổ biến tại các tỉnh miền Tây nhưng phổ biến nhất vẫn là hai vùng An Giang và Bến Tre.

Hủ tiếu Mỹ Tho – đặc sản Tiền Giang

Hủ tiếu Mỹ Tho chính gốc có vị khác hẳn hủ tiếu Nam Vang hay hủ tiếu của người Hoa. Hủ tiếu Mỹ Tho không ăn với xà lách mà dùng giá sống, chanh ớt, nước tương. Đặc biệt sợi hủ tiếu ở đây phải được làm từ gạo đất Tiền Giang chính gốc. Nước lèo truyền thống được pha có vị ngọt thanh, hầm chung với nước xương heo, mực sống và những loại rau củ như củ cải, cà rốt cho đậm đà và sắc màu.

Cá lóc kho tộ


Các lóc kho tộ là món ăn dân dã của người miền Tây. Cũng giống như các loại cá kho khác nhưng nếu nếm thử bạn vẫn sẽ thấy cá lóc có hương vị khác biệt.

Muốn kho khô thì cho tiêu thật nhiều, còn kho nước có thể cho thêm vào đó vài trái ớt sừng trâu. Ăn kèm với các loại rau, dưa leo, chuối chát hay xoài xanh băm vào nước mắm chấm vị càng ngon.

Nem nướng Cái Răng – Cần Thơ

Nem nướng Cái Răng được làm từ thịt lợn tươi, quết dẻo rồi vo tròn nướng trên than hồng. Ăn kèm với rau thơm, chuối chát, dưa leo và khế. Đặc biệt nem nướng thường chấm với nước tương, loại tương xay mịn, ngọt, thơm, rắc thêm chút đậu phộng rang và ớt băm nhỏ.

Bánh tầm bì – Cần Thơ

Những sợi bánh tầm bì được làm từ bột gạo và bột nếp có độ dai vừa đủ, luôn được hấp trong những cái xững trên bếp than. Một đĩa bánh ngon sẽ có những sợi bánh tằm trắng đều, được phủ lên trên một lớp bì heo xắt nhuyễn, thêm chút màu xanh của rau thơm, giá sống, dưa chua và mỡ hành.

Bún bò cay Bạc Liêu


Bún bò cay là một trong những đặc sản Bạc Liêu nổi tiếng. Đúng như tên gọi của món ăn, bún được được nấu với rất nhiều ớt sừng trâu tươi chín làm cho nước bún có màu đỏ tự nhiên, rất kích thích vị giác và bắt mắt.

Được chế biến khá cầu kì bởi công đoạn nấu nước phải qua một vài lần nêm cho chuẩn tỷ lệ gia vị mới có được tô bún ngon như ý.

Bánh pía Sóc Trăng

Là loại bánh hương thơm của trứng muối, đậu xanh và sầu riêng, được bao bọc bởi rất nhiều lớp vỏ mỏng bên ngoài. Bánh pía nổi tiếng ở rất nhiều vùng của miền Tây nhưng riêng hương vị ở Sóc Trăng thì không có nơi nào sánh được.

Bún kèn Hà Tiên – Kiên Giang

Bún kèn là món ăn rất riêng của ẩm thực Hà Tiên với cách chế biến cầu kì nhiều công đoạn. Tô bún kèn hấp dẫn thường rất bắt mắt với một lớp tép khô giã nhuyễn rắc lên trên cùng nhiều loại rau thơm.

Nem Lai Vung – Đồng Tháp


Lai Vung là làng nghề làm nem nổi tiếng của Đồng Tháp. Nem được làm từ thịt và bì heo, các gia vị như tiêu, ớt, tỏi được bọc trong những lớp lá chuối xanh mướt.

Cháo tống – Cà Mau

Đây là món ăn đậm chất vùng quên được chế biến từ gạo, cá lóc và rau đắng đất – loại rau không thể thiếu trong những món ăn Nam Bộ như lẩu mắm, lẩu cá.

Khi mới ăn sẽ cảm thấy vị đắng trong cháo từ rau đắng, nhưng khi càng nhai, rồi nuốt qua cổ họng du khách du lịch miền Tây sông nước sẽ càng cảm nhận được một vị ngọt thanh mát từ từ.

Bánh hỏi – heo quay Phong Điền, Cần Thơ

Bánh hỏi được là từ bột gạo, ăn kèm với thịt heo quay, rau thơm, chấm với nước mắm hay nước tương cay chua ngọt.

Đến với xứ Tây Đô, nếu ghé qua Phong Điền đừng quên ghé nhà vườn Minh Cảnh để thưởng thức món bánh hỏi heo quay do chính nhà vườn chế biến.